Sám Hối Diệt Tội . Tội Diệt Theo Nước . Như Vật Bỏ Nước . Nước Trôi Vật Trôi

Kim Cổ Kỳ Quan – Giới Thiệu

T H Ư   V I Ệ N   P H Ậ T   H Ọ C

 

Kim Cổ Kỳ Quan – Giới Thiệu

 

 

LỜI NÓI ĐẦU :

Kim Cổ Kỳ Quan của ông Nguyễn Văn Thới (1866-1926) – tục danh Ba Thới, là một tác phẩm có giá trị về đạo và đời cho nên chúng tôi sưu tập để khỏi thất lạc, nhất là trong cảnh tang hải thương điền, giả thật thật giả khó phân. Tài liệu này sao chép lại của Phật giáo Hòa Hảo. Trong mục đích truyền bá chánh đạo và bảo vệ văn học Việt Nam, xin vong linh ông Ba Thới các đạo hữu Hòa Hảo chấp thuận cho chúng tôi được tàng trữ tác phẩm này để tiện cho chúng tôi độc giả nghiên cứu.

 

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM :

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tại miền Nam nổi lên một phong trào văn chương đại chúng. Văn chương này phát xuất từ những nông dân chất phác hoặc những hàn nho. Nội dung văn chương này có hai điểm chính : Văn chương yêu nước và văn chương tôn giáo.

Đây là lúc quân Pháp xâm chiếm Việt Nam mà Nguyễn Đình Chiểu phải chạy về Bến Tre và sáng tác các bài văn tế Trương Công Định, văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc. Đây cũng là lúc phát sinh các tác phẩm khác như Thơ Sáu Trọng, Thơ Năm Nhỏ, Thơ Năm Tỵ, Thơ Cậu Hai Miêng. . . thể hiện tinh thần yêu nước chống Pháp, và sinh hoạt xã hội..

Trước đó không lâu, Bửu Sơn Kỳ Hương với Đức Phật Thầy ra đời (1849), truyền xuống đến các đệ tử như Phật Trùm, Đức Bổn Sư, Sư Vãi Bán KhoaiĐức Huỳnh Giáo Chủ. Và tại Tây Ninh, đạo Cao Đài cũng đã ra đời. 

Ngoài các tác phẩm Vãn Núi Tà Lơn của ông Cử Đa, Giảng Xưa của Đức Sư Vãi Bán Khoai, Sấm Giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ thì tác phẩm Kim Cổ Kỳ Quan có vị trí khá quan trọng.

 

I. TÁC GIẢ :

Tác phẩm này do ông Nguyễn Văn Thới (Ba Thới) soạn thành. Trong Kim Cổ Kỳ Quan, ông tự giới thiệu như sau:

Quê ngụ miền Cao Lãnh

Tôi nay Ba Thới xưng danh

Từ theo Thầy học đạo minh thanh

Cửu thu mãn thính danh dư tuế

hay :

Tôi nay Ba Thới tùng Quới Mỹ-Trà

Tên Thạnh Phật bà chủ nhà Sa Đec

Nhiều người ghen ghét mở bét bạc bôi

Nhiều việc thương Vôi thương ôi ong bướm

Việc đời lụy ướm như bướm gầy ong

Tên Thành là ông Quan-Công thuở trước

Phò vua giúp nước thuở trước rất miêng

Phật Thầy Trần Nguyên dạy yên lê thứ

Trần Nhu chiếm cứ nhị tứ Láng linh

Hai Lãnh trung tinh độ tinh gò sặt

Hai Ngôn thậm ngặt oán giặt (giặc) hỏa thiêu

Căm hờn quần yêu bao nhiêu chẳng cử

Chú tư biện xử tích cử tòa chương

Nhiều việc tủ thương lưới vương Châu đốc

Hai Nhơn tử tốc vị bốc cáo trình

Nhiều việc bất bình thương tình chú bảy dám bì

Ông Nguyễn Văn Thới (Ba Thới) là một nông dân có học chữ Hán, sinh năm Bính Dần (1866) đời Tự Đức thứ 9 tại làng Mỹ-Trà, ấp Long-Hậu, tổng Phong-Thạnh quận Cao Lãnh (Sa Đec). Ông Ba tướng người cao lớn nước da trắng, râu tóc nhiều mỗi khi tóc buông ra thì chấm đất có dư, khi về già râu bạc và dài xuống tới rún. Tánh tình cương quyết, nóng-nảy thích ngắm kiểng xem hoa, thường hút thuốc điếu và một đôi khi cũng có ăn trầu.

Mùa đông năm Binh-Ngọ (1906), Ông Ba tìm đến ông Trần Văn Nhu là con của Quản cơ Trần Văn Thành, đại đệ tử của Đức Thầy Tây An, và cũng là một nghĩa sĩ chống Pháp, xin quy-y với ông Hai ở Láng Linh. Sau ông đem cả gia đình về ở nơi đây.

Trong thời gian này, Ông Ba viết ba quyển: Vân-Tiên, Thiện-Từ, Cổ Vãng Kim Lai.

Vì có sự ghen ghét của Nguyễn Văn Phẩm (1) là cháu của ông Hai Nhu đưa đến việc Bửu Hương Tự bị nhà cầm quyền Pháp bao vây (ngày 21 tháng 2 năm Quí-Sửu 1913). Ông Ba thoát , ông Hai thì phải trốn tránh, nhưng con trai của ông ba là Nguyễn Văn Tuấn lại bị bắt cùng một một lượt với 56 người đồng đạo đến cúng chùa.

Thấy tình đời đen bạc, vả buồn vì cảnh chùa tan nát, ba hôm sau (24-2-1913), vào giờ ngọ, Ông Ba dùng dao cạo cắt họng để tự sát. Vết thương đứt tới phân nửa cuống họng, nhưng ông không chết. Người nhà hốt hoảng, chiều tối lại chở lên nhà thương Châu Đốc điều trị. Ông không chấp nhận việc chữa trị của người Pháp, ông cự tuyệt và gở bỏ hết. Độ vài tháng sau liệu bịnh tình Ông Ba không thể chữa được, nhà thương đem bỏ ông ra nhà xác. Ông trốn được ra ngoài rồi nhờ người nhà chở về.

Tháng bảy năm Giáp-Dần (1914), Ông Ba dời nhà về Lộ-Lở (làng Kiến An, tổng Định Hòa, Long Xuyên), giả dạng người thường, ruộng rẫy làm ăn cho qua ngày.

Trong chuỗi ngày tàn, Ông Ba ký thác lòng mình vào những quyển : Ngồi Buồn, Kiểng Tiên, Kim Cổ Kỳ Quan, Cáo Thị, Tứ Đại Thừa Nhàn.

Ông Ba mất vào lúc năm giờ sáng (giờ dần), ngày mùng chín tháng tư năm Bính-Dần (1927), thọ 61 tuổi. Ông để lại cho đời chín văn phẩm kiệt tác về Đạo Đức lẫn Văn Chương, và một tấm gương Tiết Tháo Kiên Trinh bất hoại.

 

II. NIÊN ĐẠI VÀ HIỆN TRẠNG TÁC PHẨM :

Về năm viết, trong một bản viết có đề ở đoạn cuối lời tựa :

Cất bút châu phụng tỏa (tả) một bài

Di truyền để hậu lai tường khán

Phật ông diễn thế gian di chúc

Tiền kỷ tái hậu vô giai.

Từ Kỷ Dậu niên Phật Thầy truyền chí Du (vu) kim,

Nhâm ngũ niên cọng, kế cứu thập tứ niên

Nhâm ngũ niên hạ nguơn nhựt Kỷ Dậu niên tái bản

Bá nhì thập niên hậu (1849-1969)

Từ Kỷ Dậu niên, Phật Thầy truyền chí vu kim nghĩa là Năm Kỷ Dậu (1849) Đức Phật Thầy khai đạo đến năm Mậu Ngọ (1858) tiếp theo là 94 năm sau mới tái bản. Vậy quyển này tái bản năm 1952.

Kỷ Dậu niên tái bản. Bá nhì thập niên hậu (1849-1969).

Ở đây có sai lầm : 

Ông Ba sinh năm 1866 nên sách không thể viết hay tái bản năm 1849. Theo tiểu sử đã giới thiệu, Ông Ba viết qua nhiều thời kỳ :

Thời kỳ thứ nhất là sau 1907 là khi ông về Láng, làm nhà gần Bửu Sơn Tự.

Thời kỳ thứ hai là trong khoảng tháng bảy năm Giáp-Dần (1914) ông Ba dời nhà về Lộ-Lỡ (làng Kiến-An, tổng Định Hòa, Long Xuyên) và trước khi mất.

Điều này là đúng vì trong Kim Cổ Kỳ Quan có câu:

Nặng nề mang nhục chữ dân

Trung-huê Dân-quốc khó phân vùi đầu

Như vậy tác phẩm này gồm chín bổn được viết trong khoảng từ 1907 đến 1926, trong đó :

Thừa Nhàn viết sau 1912 : 

Ngồi buồn cất bút chép riêng

Đặt làm chín bổn bình yên coi đời.

Giác Mê viết tại Láng Bà khoảng (sau 1907) :

Láng bà để kiển trung quân tựu

Ngọc xuất An-giang hựu thú vui.

Cáo Thị viết khi ở Láng (sau 1907) :

Trần Nhu chiếm cứ nhị tứ Lang (Láng ) linh

Hai Lãnh trung tinh độ tinh gò sặt.

– In người chốn Láng ngán ỷ vinh.

– Kim Cổ : 

“Ất mão niên cơ thâm nay đủ”.

Như vậy, bổn Kim Cổ viết xong năm ất mão (1915).

Trong bản Kim Cổ Kỳ Quan, ở dưới các đoạn có ghi Chép xong ngày 19 tháng hai (nhuần) Năm Đinh Hợi , Châu Đốc. Đinh Hợi có lẽ là năm 1947 có tháng hai nhuần, do người đời sau chép lại và năm 1952 thì tái bản. Vậy xuất bản lần đầu năm nào?

Theo tài liệu thứ nhất, Tình Thầy Nợ Nước miên man bao nỗi cảm hoài, Ông ký thác lòng mình vào bộ sách Kim Cổ Kỳ Quan, gồm chín cuốn (còn gọi chín bổn: Vân Tiên, Thiên Tứ, Cổ Vãng Kim Ca, Ngồi Buồn, Kiểng Tiên, Kim Cổ Kỳ Quan, Cáo Thị, Tứ ÐạiThừa Nhàn) toàn văn vần, tuy văn chương bình dân mộc mạc, có khi bí hiểm tiên tri, nhưng chứa đựng mối cảm hoài tha thiết Tình Thầy Nợ Nước, ưu đời ái đạo trong một hoàn cảnh xã hội bi đát, quốc phá gia vong, mà Phật Thầy đã nói trước về những khổ cảnh tai nạn đang chờ đợi chúng sanh trong những thời kỳ sắp tới.

Kim Cổ Kỳ Quan có nghĩa là Chuyện Lạ Xưa Nay, Ông Ba đặt tên cho tác phẩm là Kim Cổ Kỳ Quan để nói lên những điều Ông suy nghĩ và nhìn thấy (tiên tri) về tương lai nước Việt Nam.

Kim Cổ Kỳ Quan là tên chung 9 bổn nhưng Kim Cổ là một bổn chính, là bổn đầu trong chín bổn. Tác giả nhiều lần nhấn mạnh các chữ Kim Cổ, Cổ Vãng Kim Lai :

Ngẩn ngơ cổ vãng, đục ngầu kim lai.

hay :

Tri kim cổ mới biết việc đời

Sao người chẳng tưởng Phật Trời độ thân

hay :

Cổ kim lòng thế phân lìa

Bất cầu nan ngộ Phật vìa (dìa: về) độ thân

hay :

Nói ít nghe đầy lỗ tai

Suy đời cổ vãng kim lai biết lòng

hay :

Đậu câu trúng lý nghiệm suy

Kim lai cổ vãng luận tri Phật Trời

Thuở xưa giặc mọi tơi bời

Cũng vì tham sắc như đời trào nay

Cổ kim loạn quốc Nam Tây

Cựu thù tích oán thương thay đời này

. . . . . .

Cổ vãng ngũ hổ tam hùng

Kim lai dục đắc phục tùng bá nhân

Tác phẩm này ban đầu viết bằng chữ nôm, hay quốc ngữ ? Chưa có tài liệu nào xác nhận và chúng ta cũng không thấy bản chánh.

Chúng tôi nghĩ rằng ở thôn quê thời điểm 1920 quốc ngữ chưa phổ biến, có lẽ Kim Cổ Kỳ Quan được viết bằng chữ nôm:

Đặt nôm na lộn lạo trữ minh (chữ mình?)

Dám khuyên thượng trí chớ khinh quê mùa.

hay :

Nôm na chữ nghĩa lam nham

Dầu người chê dại cũng cam thửa lòng.

hay :

Tôi đặt mấy bổn không hay

Nôm na mấy lớp nói nay tật khùng.

Tác phẩm Kim Cổ Kỳ Quan hoàn thành gần một trăm năm, và đã ấn hành bằng quốc ngữ trong khoảng 1945 . Đó là phỏng đoán chứ chúng tôi không thấy ấn bản đầu tiên.

KIM CỔ KỲ QUAN : có 9 bổn gồm 

1- Kim Cổ

2- Giác Mê

3- Cáo Thị

4- Vân Tiên

5- Ngồi Buồn

6- Bốn Tuồng

7- Thừa Nhàn

8- Tiềng Giang

9- Kiếng Tiên

 

III. NỘI DUNG TÁC PHẨM :

Ông Nguyễn Văn Thới là một cư sĩ, là đệ tử của Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông còn là một học trò của Trần Văn Nhu, con của Quản cơ Trần Văn Thành. Ông lo việc đạo và có suy nghĩ về tương lai đất nước :

Cát bồi đi chẳng lấm chưn

(Thầy ôi !)

Nước nghèo không kẻ đỡ nưng nước nghèo

Dắt ra sông rồi dắt lên đèo

(Thầy ôi ! là Thầy ôi !)

Hết cơn bỉ cực còn nghèo về đâu ?

Biển bao sâu còn thả sợi câu

Vận thời, thời vận tới đâu bớ thầy ?

Nội dung chính của các tậpGiảng Đạo, Khuyến Thiện, nhưng xen vào đó là những lời Tiên Tri về tương lai đất nước. Ông không giống như Nostradamus, Trạng Trịnh Nguyễn Bỉnh Khiêm chuyên việc tiên đoán tương lai. Mục đích tiên đoán của Ông Ba chính là Khuyến Thiện, và dẫn chứng các biến cố để cho con người biết Tu Nhân Tích Đức để tránh tai nạn.

Các Bậc Tên Tri của Bửu Sơn Kỳ Hương cho rằng Vũ Trụ tiến triển trong vòng Sinh-Trụ-Hoại-Diệt cũng như Xuân-Hạ-Thu-Đông biến dịch :

Sau Thượng Nguyên, là Trung Nguyên, sau Trung NguyênHạ Nguyên, sau Hạ Nguyên là Thượng Nguyên.

Thế Giới chuyển vần từ thịnh đến suy, từ bỉ đến thái, biển cả thành nương dâu, núi cao thành biển rộng. Chuyện đó xa vời nhưng cũng là trước mắt.

Tang Điền Thương Hải có hai nghĩa : 

Nghĩa thứ nhất là những biến đổi về mặt địa lý, địa cầu.

Nghĩa thứ hai là những biến chuyển của lịch sử.

Nguyễn Du than thở:

Trăm năm một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng !

Trần Tế Xương thì sinh lòng hoài cảm:

Sông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.

Đêm đêm tiếng ếch bên tai,

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!

Ông Ba nêu lên những điều Ông thấy rất gần, rất thật để cảnh báo dân chúng Việt Nam là tai họa sắp đến, phải tu Nhân học Phật mà tránh tai họa:

Cải tà quy chính kẻo lầm quỷ ma.

hay :

Ai ai nhẫn chí để dành

Hạ nguơn tận thế tu hành cần năng.

hay :

Lòng vọng cầu nội ngoại tương tề

Qui nhứt thống ra bề mới nổi

Trước mắt ngọc gẫm âu việc lỗi

Sau lưng nhìn nhiều nỗi Phật Tiên

hay :

Đêm năm canh thổn thức chẳng yên

Ngày sáu khắc sầu riêng mối đạo

Tưởng ái quốc cơ đồ sáng tạo

Nhìn lê dân cường bạo đa đoan

Chúa mỏi lòng chúa nghĩ thân an

hay :

Tôi mệt dạ còn mang nạn cả

Thời quân nhược quả kia báo quả

Thế thần cường giầy giã trung cang

Bắc lương thiền nghĩ tại không toan

Thời bất đạt đa mang tội thế

hay :

Ngày Bính Tý thương cha lập kế

Ơn cửu huyền tiền thế trung thu

Bảy ngày xuân ít kẻ công phu

Thập ngũ nhựt không tu hội phí

Trường an Phật ít người hội ý

hay :

Chốn bạo tàn hiếp (hiệp ) trí gia công

Mẹ thương con xà lộn với long

Con ghét mẹ nên không niệm Phật .

Sầu tâm nội nhơn đồng dữ vật

Xét ít người lòng Phật nhiều ma

Có vui chỉ một chốn Diêm la

Miền Tiên cảnh vào ra ít mặt

hay :

Rắn lộn Rồng nhơn dân sanh giặt (giặc )

Đề lao chốn (chống) cửa ngặt nỗi chi

Nhị niên xao xát ( xác) lời ghi để

Ngục rạt (rặc) chen người xiếc ( xiết) kể bao

Bấy lâu tiêu tứ công lao khổ

hay :

Biển Thánh rừng Nhu bổ báo ân

Rạng đến hai chữ quân thần đạo .

Ái quốc ưu quân bỏ bạo tàn

Quốc cương (vương?) thuỷ thổ đường danh vọng

Rèn chí tu tâm động Phật Trời

hay :

Khổ tăng gia khổ lời bất chánh

Đường lành thấy đó tranh (tránh) sao đành

Sầu nỗi muôn chim không nhành đậu

Buồn cho thế sự hậu bất gia

Con Phật có lòng, ma mà (nào) dắt

hay :

Con ma chẳng kể quỉ bắt ma .

Nhứt nhơn địch vạn cha ơn trợ

Ngô (Ngó ) Bắc xem Nam sợ Phật Trời

Ngọn rau tấc đất lời cẩn hạnh

Súng bắn rập bô chẳng mạnh chi

Dõng bất quá thiên đừng khi Phật

Cường vô quá lý vật tiêu tan

Của Thiên trả Địa mang tiến (tiếng) dữ

Tích đức minh minh chẳng chữ (giữ) lòng

Có chi hơn một kiểng non bồng

hay :

Trung quân hiếu phụ vợ chồng ái ân

Nơi ánh sáng Sư tiền giáo đạo

Nhờ oai linh nội ngoại tổ tông

Tổ căn nguyên Tam giáo sư ông

Di truyền Đạo thiệt là Thích Đạo

hay :

Hữu Thánh giáo coi sao lộn lạo

Đời kim tiền đa đạo đa sư

Nói nhơn hư đạo thiệt bất hư

Lầm tả (tà) đạo nhơn hư bất dụng

Kiêm (Kim) Thích đạo kinh xưa chẳng tụng

hay :

Việc âm thinh sắc tướng bất dùng

Đạo tại tâm tâm đạo xuất tùng

Tùng tâm đạo mới là Phật đạo .

Đa tà (tạ) quỉ ( quý) sư truyền khổ giáo

E hậu lai ác báo ác lai

hay :

Người ở đời ai cũng hai tai

Nghe cho rõ đạo ai chánh giáo

Người lại nói Phật rằng nói láo

E cho người sau mất phần ăn

Khuyên người đừng nghi hoặc lăng xăng

hay :

Sau người lại vô căn mà chết

Dầu thương ghét Phật Trời thương hết

Người nhứt tâm giữ nết ở ăn

Tai hoạ Trời xuống chốn lăng xăng

Nạn nước lửa nạn phần ôn dịch

hay :

Nạn trái ban (trái) thương phần con nít

Nạn chìm ghe lão ấu bất tồn

Nạn hổ lang ác thú hết hồn

Nạn chết đói ó rằn mổ cắn

Nạn giặc giã chạy dường cóng cẳng

hay :

Té ngã lăng chân thẳng chân dùn

Phật ngày xưa dạy bảo người tùng

Nay mắc nạn rùng rùng phế bổ (bỏ)

Tu nhân đạo tậm thâm ai rõ

Tu gia trì tu nhỏ tu nhen

hay :

Tu Quốc vương chơ Phật ngợi khen

Tu bồ thi (thí) làm quen với Thánh

Tu tành hạnh cầu an bá tánh

Tu đấp (đắp ) đường tịnh thuỷ ai (tai) ương

Tu biết thương vốn thiệt chay trường

hay :

Tu tham của tu đường địa ngục

Tu cần kiệm gia đường phú túc

Tu ghét ghen tu chúc gông cùm

Tu hiếu nghĩa bao trùm Tiên Thánh

Tu làm vậy Phật trời lưỡng tánh

hay :

Tu quỉ ma tránh chẳng khỏi tai

Tu thi ân mới đặng lâu dài

Tu phước đức mới là phương tiện

Tu nhẫn nhẫn khuyên đừng thưa kiện

Tu hưu hưu vạn sự thôi thôi

hay :

Tu trong tâm đừng ở ngoài môi

Tu nhân nghĩa lễ nghi trí tín

Phật bài để Phật đâu cất kín

Nhơn bất tri bất giác bất thông

Nói cho nhiều những việc mênh mông

Trong trăm mối tích tông (tòng ) đạo cả

Đạo là lớn chẳng vay chẳng ngã

Trong năm châu chư quốc đều noi

Trước mắt người ít kể xét soi

Tu nhân đạo thiệt là chánh giáo

hay :

Tiên, Thánh, Phật ba ngôi dựng tạo .

Tu xưng danh tu kiếm gạo tiền

Tu mạo chiều ( chiếu ) thế (phế) tiền phản Đạo

Trên Trời Phật không tờ chỉ giáo

Dưới chúng sanh tạo tác điểm danh

hay :

Tạo cốt hình lục tỉnh bia danh

Phật đâu lại bất tri ngôn ngữ

Kỷ tri kỷ bất tri nhân bỉ

Tội bỉ tri tội kỷ bất tri

Ly ngục hình nhơn ngục nan ly

hay :

Tri kỳ bỉ bất tri kỳ thử .

Văn ngôn chánh cước ( phước) lai hoạ khứ

Văn ngôn tán (tà) phước khứ hoạ lai

Ai nên hư phải quấy mặc ai

Tục đường (phương) nói tội ai lai (tai) nấy.

hay :

Giác việc đời phải quấy có đôi

Phật với ma thì lại riêng ngôi

Phú với quí nghĩ thôi một cặp

Trung với nịnh nghĩ thôi hai cặp

Chánh với tà chẳng gặp, chẳng (gặp) hung .

hay :

Hiếu với trung, trung hiếu chung cùng

Khôn với dại, dại khôn khôn dại

Nhơn lễ nghĩa trí tín hợp lại

Dữ với hung, hung dữ ở gần

Thần với Thánh, Thánh Thần cứ ( cứu ) độ

hay :

Nói phải quấy cũng như giã ngộ

Nói ít lời lật đổ ( tật đố ) mặc ai

Cất bút châu phụng toả (tả) một bài

Di truyền để hậu lai tường khán

“Phật ông diễn thế gian di chúc,

hay :

Tiền kỷ tái hậu vô giai”.

Từ Kỷ Dậu niên Phật Thầy truyền chí Du (vu) kim,

Nhâm ngũ niên cọng, kế cứu thập tứ niện (niên)

Nhâm ngũ niên hạ nguơn nhựt

Kỷ Dậu niên tái bản. Bá nhì thập niên hậu ( 1849-1969 )

 

Cám Ơn Các Bạn Đã Ghé Thăm Website. Chúc Các Bạn An Lạc, Có Thêm Nhiều Kiến Thức Bổ Ích…

( Đã Xem : 513 )

print

Translate »